Sách lược của Trung Quốc khi tung “đòn” giận vào Canada thay vì Mỹ

Có một lý do khiến Bắc Kinh gây áp lực với Canada chứ không phải Mỹ sau vụ bắt giữ Giám đốc Tài chính của Huawei, bà Meng Wanzhou. Úc và New Zealand có thể là những quốc gia tiếp theo chịu áp lực từ Trung Quốc.Sự kiện:

Tin tức Trung Quốc

,

Quan hệ Mỹ – Trung Quốc

,

Giám đốc Huawei bị bắt

Sach luoc cua Trung Quoc khi tung "don" gian vao Canada thay vi My

Trung Quốc đang ép buộc các đồng minh của Mỹ phải lựa chọn: đứng về phía Bắc Kinh hoặc ít nhất không đứng về phía Washington.

Đầu tháng 12 năm 2018, Sarah McIver, một giáo viên người Canada, bị bắt giam tại Trung Quốc vì làm việc bất hợp pháp. Cô trở thành công dân Canada thứ ba bị giam giữ tại Trung Quốc sau khi Canada bắt giữ bà Meng Wanzhou, giám đốc tập đoàn công nghệ Trung Quốc Huawei. Nhiều tin tức cho thấy có tới 13 người Canada bị giam tại Trung Quốc kể từ khi bà Meng bị bắt. Một số người trong đó đã được chính quyền Trung Quốc thả, bao gồm McIver.

Tuy nhiên, hai người Canada đầu tiên bị bắt tại Trung Quốc hiện vẫn bị giam giữ. Cựu nhà ngoại giao Michael Kovrig và doanh nhân Michael Spavor đều bị bắt vì tội nghiêm trọng hơn: gây tổn hại đến an ninh quốc gia Trung Quốc.

Vụ bắt giữ Meng khiến Trung Quốc tức giận và Bắc Kinh đang có hành động trả đũa. Tuy nhiên, Trung Quốc có hai phản ứng khác nhau: tiếp cận vấn đề một cách nhẹ nhàng với Mỹ (quốc gia yêu cầu bắt giữ Meng) và có hành động nghiêm khắc với Canada. Khi làm vậy, Bắc Kinh hy vọng ngăn cản Canada làm theo lời Mỹ, chống lại Trung Quốc. Tóm lại, Bắc Kinh dường như đang muốn ngăn Washington hình thành một cuộc công kích trong khu vực và trên toàn cầu chống lại Bắc Kinh, theo The Diplomat.

Bằng cách này, Trung Quốc bắt đầu một cuộc chiến để buộc các đồng minh của Mỹ phải lựa chọn: đứng về phía Bắc Kinh hoặc ít nhất không đứng về phía Washington.

Sau vụ bắt giữ giám đốc Huawei, Trung Quốc nhận ra Mỹ đang kêu gọi đồng minh “bao vây” các công ty công nghệ cao Trung Quốc. Điều này có thể tạo điều kiệu cho việc Mỹ tập hợp đồng minh gây sức ép với Trung Quốc ở các lĩnh vực khác trong tương lai.

Tờ Thời báo Hoàn Cầu của Trung Quốc đăng một bài xã luận có tên “Hãy để quốc gia đang xâm chiếm lợi ích của Trung Quốc phải trả giá” vào ngày 16.12.2018.

Bài báo viết “đối với những nước không quan tâm đến lợi ích của Trung Quốc và có hành vi bất thường, Trung Quốc sẽ kiên quyết chống trả để những nước này phải trả giá, và thậm chí chịu tổn thất rất lớn”.

Chưa hết, báo Trung Quốc nhấn mạnh: “Chúng ta cần chọn mục tiêu phản công và khiến những quốc gia đó bị vùi dập một cách đau đớn. Chúng tôi cho rằng trong trò chơi phức tạp này, Trung Quốc nên tập trung vào những quốc gia liên minh Five Eyes, đặc biệt là Úc, New Zealand và Canada”.

Five Eyes là một liên minh tình báo bao gồm Úc, Canada, New Zealand, Anh và Mỹ. Báo Trung Quốc viết rằng liên mình này đã “theo chân Mỹ làm tổn hại đến lợi ích của Trung Quốc. Hành động của họ cực đoan và họ là một trong những mục tiêu mà Trung Quốc nên nhắm tới trước tiên”.

Qua bài báo, Bắc Kinh dường như tuyên bố công khai họ sẽ trả đũa đồng minh của Mỹ như Canada. Và việc gây áp lực với Canada cũng là để gửi thông điệp tới những quốc gia khác.

Vậy tại sao Trung Quốc lại chọn chiến lược mềm mỏng với Mỹ nhưng khắc nghiệt với đồng minh Mỹ?

Đầu tiên, Trung Quốc biết hầu như tất cả đồng minh của Mỹ đều duy trì quan hệ kinh tế và thương mại tích cực với Trung Quốc. Cả Úc và New Zealand đều coi Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của mình và Canada coi Trung Quốc là đối tác thương mại lớn thứ hai. Vì vậy, Trung Quốc có vẻ như có nhiều biện pháp để đối phó với những nước này.

Thứ hai, Bắc Kinh không muốn làm suy yếu sự đồng thuận và thỏa thuận thương mại đạt được giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại hội nghị thượng đỉnh G20 năm ngoái. Đó là lý do tại sao Trung Quốc cố gắng tránh xung đột trực tiếp với Mỹ.

Ngoài ra, những đồng minh của Mỹ như Canada không mạnh bằng Mỹ, khiến họ trở thành mục tiêu dễ dàng hơn. Do đó, trong sự vụ bà Meng bị bắt, Trung Quốc tránh đối đầu trực tiếp với Mỹ, tập trung vào Canada, tận dụng điều này để chia rẽ và ngăn chặn những nước khác theo Mỹ “bao vây” Trung Quốc.

Tuy nhiên, không rõ liệu các quốc gia như Canada và Úc có bị ép đứng về phía Trung Quốc hay không. Để vượt qua cuộc công kích của Mỹ chống lại các công ty công nghệ cao và viễn thông Trung Quốc, Bắc Kinh không thể thành công chỉ bằng chiến thuật này. Nhiều nước phương Tây đã ngừng sử dụng sản phẩm dịch vụ viễn thông của Trung Quốc. Làm thế nào để xử lý cuộc khủng hoảng niềm tin này là một vấn đề lớn mà Trung Quốc đang phải đối mặt.

VietBao.vn

SMC khẩn thiết kêu gọi lập vùng cấm bay để ngăn chặn cuộc xâm lược …

Hội đồng quân sự Syria (SMC) ngày 41 đã phát đi thông báo kêu gọi một khu vực cấm bay ở phía bắc Syria để ngăn chặn cuộc xâm lược từ Thổ Nhĩ Kỳ.

Xe quân đội Thổ Nhĩ Kỳ hiện diện ở Syria

“Chúng tôi kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới và các Kitô hữu trên thế giới bảo vệ chúng tôi – những người sống ở vùng đông bắc Syria, khỏi các mối đe dọa xâm chiếm và ‘xóa sạch’ lãnh thổ của chúng tôi khỏi Kitô giáo, tự do tôn giáo và nền dân chủ từ quân đội Thổ Nhĩ Kỳ”, SMC viết trong thông báo của họ hôm 4-1.

SMC sau đó đã đề cập đến thông báo rút quân của Tổng thống Mỹ Donald Trump, mà điều này khiến họ dễ  phải hứng chịu một cuộc xâm lược của quân đội Thổ Nhĩ Kỳ.

“Quyết định rút quân đột ngột khỏi Syria của Tổng thống Mỹ Donald Trump đã khiến chúng tôi gặp khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho Thổ Nhĩ Kỳ hoặc các chế độ khác tranh giành và chứng kiến sự sụp đổ của chúng tôi. Ankara đang đe dọa xâm chiếm và giết chết chúng tôi hàng ngày trên các phương tiện truyền thông địa phương”, SMC nói tiếp.

Liên quan đến hoạt động trước đây của quân đội Thổ Nhĩ Kỳ tại Afrin, SMC cho biết, khi Ankara được phương Tây cho phép vào Afrin, họ đã phạm tội ác chiến tranh và thanh trừng sắc tộc đối với các nhóm thiểu số tôn giáo.

“Tất cả các Kitô hữu phải chạy trốn khỏi khu vực khi phiến quân được Thổ Nhĩ Kỳ hậu thuẫn đã tiến hành các cuộc tìm kiếm từng ngôi nhà để săn lùng và giết các Kitô hữu, và phá hủy tất cả các nhà thờ ở Afrin”, SMC chỉ rõ trong thông báo, và kết luận bằng cách kêu gọi lập một khu vực cấm bay ở phía bắc Syria để ngăn chặn một cuộc xâm lược của Thổ Nhĩ Kỳ.

“Hãy giúp chúng tôi khẩn trương thiết lập, càng sớm càng tốt, một khu vực cấm bay ở vùng đông bắc Syria để bảo vệ chúng tôi khỏi sự xâm lược của Thổ Nhĩ Kỳ. Sức mạnh của không quân nước này áp đảo những người bảo vệ Afrin, và ngay cả Lực lượng Dân chủ Syria dũng cảm của chúng tôi cũng không thể chống lại quân đội NATO hùng mạnh. Việc ngăn chặn cuộc xâm lược và chiếm đóng Syria là rất cấp bách”, SMC kêu gọi.

SMC là một nhóm dân quân có trụ sở tại tỉnh Al-Hasakah của Syria. Họ trung thành với Các Đơn vị bảo vệ nhân dân (YPG) do người Kurd lãnh đạo.

VietBao.vn

Đầu tư vào Syria: Chiến lược dài hạn của Nga

Nga sẽ ở lại lâu dài ở Syria và Trung Đông khi đầu tư hàng loạt dự án vào Syria và thiết lập mối quan hệ với các nước trong khu vực.

Dự kiến các công ty của Nga sẽ tiến hành xây dựng một sân bay tại thành phố ven biển Tartus, Syria. Thông tin này được người đứng đầu Văn phòng Kế hoạch và Hợp tác quốc tế Syria Imad Al-Sabuni tiết lộ với truyền thông.

Dau tu vao Syria: Chien luoc dai han cua Nga
Căn cứ Hải quân Tartus của Nga ở Syria.

Ngoài dự án xây dựng sân bay ở khu vực này, hàng loạt dự án khác cũng đã được lên kế hoạch và sẽ bắt đầu thực hiện từ năm 2019 đến năm 2021, hãng tin RIA Novosti dẫn nguồn tin từ tờ Al-Watan.

Cụ thể, tám dự án trong số các dự án này sẽ liên quan đến lĩnh vực công nghiệp. Theo đó phía Syria và Nga sẽ tập trung khôi phục nhà máy sản xuất lốp ô tô ở tỉnh Hama và xây dựng một nhà máy sản xuất xi măng mới ở thành phố Al-Salamiya thuộc tỉnh Aleppo.

Ngoài ra, các công ty Nga cũng sẽ tích cực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vận tại trên toàn lãnh thổ nước này. Hiện tại hạ tầng giao thông ở Syria bị tàn phá nặng nề vì chiến tranh. Đặc biệt là dự án tái thiết và phát triển tuyến đường sắt từ mỏ phốt phát đến cảng Tartus.

Hai dự án liên quan đến việc đào tạo các chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp và khoa học, năm dự án khác liên quan đến tài nguyên nước và 3 dự án khác liên quan đến lĩnh vực sản xuất thực phẩm.

Ông Al-Sabuni cũng tiết lộ thêm 2 dự án liên quan đến lĩnh vực y tế, trong đó quan trọng nhất là dự án xây dựng nhà máy sản xuất vắc-xin Nga-Syria.

Trước đó sau cuộc họp ủy ban liên chính phủ giữa Nga và Syria, phái đoàn hai bên đã ký một thỏa thuận và các tài liệu song phường, trong đó bao gồm hơn 30 dự án đầu tư.

Động thái này của Nga cho thấy họ đang nỗ lực giúp đỡ ông Assad kiến thiết lại đất nước, thiết lập lại hòa bình ở quốc gia này.

Trước đó sau khi giành quyền kiểm soát phần lớn lãnh thổ, phía Nga cùng với Trung tâm hòa giải cũng đã tích cực giúp chính quyền Syria khôi phục các khu định cư, các cơ sở hạ tầng như nhà ở, trường học, bệnh việc, các trung tâm thương mại cũng như các đối tượng khác cần thiết phục vụ cho công dân đều đang được khôi phục nhanh chóng, đồng thời đưa ra những chính sách hỗ trợ đặc biệt để cho người tị nạn trở về, ví dụ như đảm bảo cho họ một công việc mới và bảo đảm xã hội cho họ

Rõ ràng những động thái này của Nga cho thấy, họ có ý định ở lại và hợp tác lâu dài với Syria cũng như các nước vùng Trung Đông.

Sau sự can thiệp của Syria, Nga đã có được thỏa thuận sử dụng căn cứ hải quân Tartus của Syria trong vòng 49 năm, căn cứ duy nhất của Nga ở Địa Trung Hải, và bảo đảm quyền truy cập vô thời hạn đối với căn cứ không quân Khmeimim của Syria.

Tương tự như vậy, Nga cũng đã nỗ lực hòa giải xung đột Yemen diễn ra trong bối cảnh Moscow muốn có một căn cứ hải quân cho phép tiếp cận Biển Đỏ và vùng Sừng Châu Phi. Nước này cũng đang theo đuổi các cơ sở quân sự ở Ai Cập, Libya và Sudan.

Điều này một lần nữa cho thấy rằng Tổng thống Putin đã và đang tìm cách xây dựng mối quan hệ với mọi quốc gia xung quanh Syria, đặc biệt là các nước đồng minh của Mỹ như Israel và Thổ Nhĩ Kỳ nhằm làm suy yếu lợi ích của Washington trong khu vực này.

  • Minh Tú

VietBao.vn

Mỹ tìm cách vô hiệu hóa lực lượng hạt nhân chiến lược của Nga

Mỹ đang tìm những cách thức mới để vô hiệu hóa tiềm năng của lực lượng tên lửa chiến lược Nga, Tổng tư lệnh Nga Sergei Karakayev nói trong một cuộc phỏng vấn.

My tim cach vo hieu hoa luc luong hat nhan chien luoc cua Nga

Nga lo ngại Mỹ tìm cách vô hiệu hoá lực lượng tên lửa. Ảnh minh họa: TASS

“Chúng tôi có thể khẳng định rằng trong tương lai gần, Mỹ sẽ không chỉ tiếp tục tìm cách vô hiệu hóa năng lực của lực lượng Tên lửa Chiến lược Nga mà còn nghiên cứu và thực hiện các biện pháp mới để đạt được mục đích này”, tờ Krasnaya Zvezda dẫn phát biểu của Thượng tướng Sergei Karakayev hôm 17/12.

Ông cũng nói rằng tiềm năng hạt nhân của Nga và Mỹ đã giảm hơn 3 lần kể từ khi ký Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược (START I). “Tuy nhiên Mỹ không ngừng phát triển khả năng phòng thủ tên lửa, phá vỡ thế cân bằng của ưu thế tấn công và phòng thủ theo hướng có lợi cho họ”, Tướng Karakayev nói thêm.

Hậu quả của việc Mỹ rút khỏi Hiệp ước Lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) đều được tính đến trong quá trình lập kế hoạch tác chiến của Nga, kể cả việc Mỹ triển khai tên lửa tầm trung tại châu Âu và các mối đe dọa mới đối với an ninh Nga.

Hiệp ước INF được ký kết tại Washington vào ngày 8/12/1987 và có hiệu lực vào ngày 1/6/1988. Hiệp ước INF đã quy định các bên ngừng vận hành và tháo dỡ tên lửa mặt đất có tầm bắn từ 500 km đến 5.500 km. Tính đến năm 1991, Liên Xô tiêu hủy 1.846 tên lửa và Mỹ tiêu hủy 846 tên lửa.

Đến tháng 7/2014, Washington lần đầu tiên cáo buộc Moscow vi phạm Hiệp ước INF và kể từ đó, Mỹ đã lặp lại tuyên bố này nhiều lần.

Về phần mình, Nga mạnh mẽ phủ nhận các cáo buộc và đáp trả rằng Mỹ đã vi phạm hiệp ước một cách trắng trợn bằng cách triển khai hệ thống phóng thẳng đứng Mk-41 đa năng ở nhiều căn cứ. Bên cạnh đó, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nga, Đại tướng Fomin cho biết vào giữa tháng 8/2018 rằng Washington đã đưa ra quyết định tài trợ cho một dự án xây dựng các hệ thống phóng di động cho tên lửa hành trình trên đất liền với tầm bắn 500-5.500 km.

VietBao.vn

Lực lượng tên lửa chiến lược Nga sắp nhận nhiều loại tên lửa tiên tiến

Lực lượng tên lửa chiến lược Nga sẽ nhận được khoảng 100 phần vũ khí mới, trong đó có nhiều loại tên lửa hiện đại và tiên tiến nhất vào cuối năm 2018.

Trả lời trong một cuộc phỏng vấn trước báo giới ngày 17/12, Chỉ huy trưởng Lực lượng tên lửa chiến lược Nga (RSMF) Sergei Karakaev cho biết, Sư đoàn Dombarovsky sẽ là đơn vị đầu tiên ở Nga được trang bị hệ thống tên lửa siêu thanh Avangard mới vào năm 2019, cùng với các hệ thống tên lửa Yars. Trong khi đó, tên lửa đạn đạo liên lục địa tiên tiến nhất Sarmat dự kiến cũng sẽ được triển khai vào năm 2021 tại các đơn vị của Sư đoàn Uzhur.

Luc luong ten lua chien luoc Nga sap nhan nhieu loai ten lua tien tien
Lực lượng tên lửa chiến lược Nga sẽ nhận được khoảng 100 phần vũ khí mới, trong đó có nhiều loại tên lửa hiện đại và tiên tiến nhất vào cuối năm 2018. Ảnh: Tass

Trước đó, trong bài phát biểu thường niên trước Quốc hội Liên bang ngày 1/3/2018, Tổng thống Nga Vladimir Putin cho biết, Nga sẽ tích cực hiện đại hóa kho vũ khí chiến lược của mình để đáp trả việc Mỹ triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa trên toàn cầu./.

Luc luong ten lua chien luoc Nga sap nhan nhieu loai ten lua tien tien

Nga cảnh báo kế hoạch sao chép vũ khí Nga của quân đội Mỹ

VOV.VN – Tập đoàn công nghệ của Nga cảnh báo việc sản xuất vũ khí Nga tại Mỹ mà không có sự cho phép về mặt pháp lý là hành vi “trộm cắp trí tuệ”.

Luc luong ten lua chien luoc Nga sap nhan nhieu loai ten lua tien tien

Tướng Nga: Trung Quốc không sao chép nổi động cơ máy bay Nga Su-35

VOV.VN – Trước thông tin Nga bàn giao chiến đấu cơ Su-35 cho Trung Quốc, tướng Buzhinsky khẳng định nước này chưa đủ khả năng sao chép động cơ máy bay đó.

Ngọc Huân/VOV1

VietBao.vn

Lực lượng tên lửa chiến lược Nga sẽ nhận được 100 vũ khí mới vào …

GD&TĐ – Lực lượng tên lửa chiến lược Nga sẽ nhận được khoảng 100 vũ khí mới, trong đó có các hệ thống tên lửa Yars, Chỉ huy Lực lượng tên lửa chiến lược Nga – Đại tướng Sergei Karrakaev nói.

“Vào cuối năm nay, khoảng 100 vũ khí mới được lên kế hoạch cung cấp cho quân đội, bao gồm các hệ thống tên lửa Yars cố định và di động” – ông Karakaev nói với tờ Krasnaya Zvezda trong một cuộc phỏng vấn.

Ông Karakaev cũng nói rằng vào năm 2021, đơn vị Uzhur sẽ trở thành đơn vị đầu tiên ở Nga được trang bị tên lửa đạn đạo liên lục địa Sarmat.

“Trong khuôn khổ chương trình vũ khí của nhà nước, ngành công nghiệp quốc phòng Nga đang tạo ra hệ thống tên lửa Sarmat. Dự kiến, việc trang bị cho quân đội tổ hợp tên lửa này được bắt đầu từ đơn vị Uzhur – nơi đang được trang bị tổ hợp Voevoda – hệ thống tiền thân của Sarmat” – ông nói.

“Các cuộc thử nghiệm tên lửa Sarmat đã kết thúc thành công… Cơ sở hạ tầng cho những chuyến bay thử tại cơ sở Plesetsk đang được tích cực tạo ra. Trong tương lai gần, các chuyến bay thử của tổ hợp này sẽ được bắt đầu và từ đó cho phép sản xuất hàng loạt các thành phần của nó” – ông Karakaev cho biết.

Chỉ huy Lực lượng tên lửa chiến lược Nga cũng nói rằng năm 2019, đơn vị Dombarovsky cũng trở thành đơn vị đầu tiên được trang bị các hệ thống tên lửa siêu thanh Avangard.

Hải Yến

Theo Sputnik

VietBao.vn

Bước chuyển không gian chiến lược

Cuối năm 2017, trong chuyến thăm châu Á, Tổng thống Mỹ D.Trump chính thức gửi đi thông điệp về một khu vực “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”. Năm 2018, những động thái của Tổng thống D.Trump, dù chưa thật sự rõ nét nhưng cũng phản ánh mối quan tâm và tầm nhìn chiến lược của Washington. Song, cạnh tranh khốc liệt và những mối hoài nghi tại khu vực đang là rào cản với bước chuyển về không gian chiến lược của Mỹ.Buoc chuyen khong gian chien luoc

Tầm nhìn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Cụm từ Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương được sử dụng ngày một rộng rãi, với hàm ý về một không gian địa lý, gồm các quốc gia nằm ven biển Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương, cùng vùng biển nối liền hai đại dương. Không gian Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cũng được hiểu là vùng lãnh hải kéo dài từ bờ biển Đông Phi và Tây Á, vượt Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương, tới bờ biển Đông Á. Khu vực rộng lớn này có ba nền kinh tế hàng đầu thế giới cùng nhiều thị trường có tốc độ phát triển nhanh, nhiều quốc gia có tiềm lực quân sự lớn. Với vị thế và tiềm lực như vậy, khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhanh chóng trở thành “điểm nóng” cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc.

Không phải người khởi xướng tầm nhìn về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, song Tổng thống D.Trump ngày càng thể hiện quan tâm và có nhiều bước triển khai chiến lược. Chuyến công du kéo dài 12 ngày tới một loạt nước châu Á và dự Hội nghị cấp cao APEC năm 2017 tại Việt Nam đánh dấu bước chuyển chiến lược của Mỹ, khi Tổng thống D.Trump liên tục nhắc tới cụm từ Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, thay cho châu Á – Thái Bình Dương. Không gian chiến lược mới trở thành một nội dung quan trọng trong Chiến lược an ninh quốc gia và Chiến lược quốc phòng năm 2018 của Mỹ.

Vậy điều gì khiến Mỹ có bước chuyển không gian chiến lược một cách nhanh chóng đến thế? Giới chuyên gia chỉ rõ hai yếu tố then chốt, gồm nhu cầu nội tại và tác động của bối cảnh bên ngoài. Thứ nhất, nằm ở vị trí chiến lược, tiếp giáp nhiều đại dương và kết nối Mỹ với thế giới, Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương được Washington coi là khu vực địa chiến lược quan trọng, tác động trực tiếp an ninh quốc gia và vị thế cường quốc hàng đầu thế giới của Mỹ; vì thế, triển khai các bước đi chiến lược tại khu vực này giúp Washington không chỉ bảo vệ lợi ích của Mỹ trong cuộc cạnh tranh kinh tế khốc liệt, mà còn bảo đảm tự do và an ninh cho các tuyến giao thông biển, duy trì thế cân bằng chiến lược, tăng cường “sức mạnh mềm” và ảnh hưởng của Washington. Thứ hai, bất ổn gia tăng tại khu vực, trong đó có Biển Đông, nơi Washington không ít lần khẳng định “có lợi ích”, xuất phát từ những động thái mà Mỹ cho là “sự trỗi dậy mạnh mẽ” của Trung Quốc, có thể cản trở dòng chảy thương mại tự do và an ninh, an toàn các tuyến giao thông biển. Washington không thể phớt lờ các động thái của Bắc Kinh tại Biển Đông hay những bước triển khai sáng kiến Vành đai và Con đường, vốn bị cho là có thể thách thức vai trò và lợi ích của Mỹ tại khu vực.

Bởi thế, theo giới phân tích, duy trì lợi ích kinh tế, sức mạnh chính trị và kiềm chế các đối thủ thách thức vị thế của Mỹ là mục tiêu cao nhất và cũng là nội hàm chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Washington. Trong đó, nhằm bảo vệ thị trường Mỹ và kiềm chế các đối thủ, Washington tăng cường hợp tác với các nền kinh tế và thị trường lớn ở khu vực, triển khai chính sách thuế nhằm giảm thâm hụt thương mại và ngăn chặn cạnh tranh bất bình đẳng. Để bảo toàn vị thế siêu cường, Mỹ củng cố các mối quan hệ đồng minh, xây dựng các liên minh mới nhằm tạo cân bằng chiến lược và cô lập các đối thủ. Washington cũng thúc đẩy hợp tác quốc phòng nhằm bảo đảm an ninh trong toàn khu vực rộng lớn, cùng việc hỗ trợ các đồng minh, răn đe tiến công các đối thủ.

Tham vọng và nghi ngại

Trong “ván bài lợi ích” ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, Mỹ chỉ là một “người chơi chính” và cùng Nhật Bản, Ấn Độ và Ô-xtrây-li-a hình thành một “tứ giác kim cương” mới. Dù có lợi ích và ưu tiên khác nhau, song về cơ bản, các thành viên “bộ tứ” này cùng chia sẻ tầm nhìn về một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do, rộng mở, hợp tác dựa trên luật lệ. Tuy nhiên, chiến lược của Mỹ cũng bị nhìn nhận như một công cụ giúp Mỹ và đồng minh chống lại sự trỗi dậy và mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc. Suy luận này có thể hiểu được, nếu nhìn lại những tuyên bố và hành động với Trung Quốc của chính quyền Tổng thống D.Trump trong năm 2018, khi Washington xác định Trung Quốc là “đối thủ chiến lược” và không ngừng leo thang cuộc chiến thương mại với Bắc Kinh.

Một năm sau khi Tổng thống D.Trump công bố, dường như chưa có nhiều tiến triển lớn trong việc triển khai chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, ngoại trừ đóng góp giải quyết các mối quan ngại về an ninh, trong đó có vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, cùng những bước đi bất ngờ trong thương mại phản ánh ưu tiên của Washington nhằm giảm thâm hụt khi sử dụng “cây gậy thuế” và thúc đẩy thương mại song phương hơn là đa phương, khi rút khỏi dự án TPP nhiều tham vọng và xới lại một loạt thỏa thuận thương mại với các đối tác.

Trong thông cáo về chuyến thăm châu Á của Phó Tổng thống M.Pence, đúng thời điểm một năm sau chuyến công du của Tổng thống D.Trump tháng 11-2017, Bộ Ngoại giao Mỹ khẳng định lại cam kết của Mỹ với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, nêu rõ ba trụ cột chính trong chiến lược của Mỹ ở khu vực này, gồm: thương mại và đầu tư; an ninh; và hỗ trợ xây dựng chính phủ minh bạch. Thương mại giữa Mỹ với khu vực hiện đạt mức 1,8 nghìn tỷ USD, giúp tạo hơn 3,3 triệu việc làm tại Mỹ. Tổng đầu tư của Mỹ ở khu vực cũng đạt gần một nghìn tỷ USD, nhiều hơn cả tổng đầu tư của ba nước Đông – Bắc Á cộng lại. Đó là lý do Mỹ thúc đẩy những thỏa thuận thương mại mới, ưu tiên song phương và trên cơ sở tự do, công bằng và có đi có lại, đồng thời tiếp tục gia tăng đầu tư, cam kết hỗ trợ xây dựng cảng biển, sân bay, đường bộ và đường sắt, cũng như các tuyến truyền dữ liệu tầm cỡ toàn cầu…

Về hỗ trợ an ninh, năm 2018 Mỹ đã cấp hơn 500 triệu USD, trong đó gần 400 triệu USD hỗ trợ các lực lượng quân đội, nhiều hơn cả tổng số viện trợ của cả ba năm gần đây cộng lại. Mỹ cam kết tiếp tục hợp tác với các quốc gia có cùng quan điểm, nhằm đối phó các mối đe dọa cấp bách ở khu vực, như chống khủng bố, chống phổ biến vũ khí hạt nhân… Phát biểu tại các sự kiện lớn ở khu vực dịp cuối năm, Phó Tổng thống M.Pence cam kết Mỹ sẽ hỗ trợ các nước nhằm bảo vệ biên giới, cả trên đất liền, trên biển và trong môi trường số; tiếp tục hợp tác nhằm bảo vệ tự do hàng hải và hàng không ở khu vực.

Tham vọng là vậy, song chiến lược của Mỹ chưa thể thoát khỏi những mối ngờ vực gia tăng, xuất phát từ chính những cam kết còn thiếu nhất quán của Washington với khu vực. Dù Mỹ khẳng định cam kết với khu vực chưa bao giờ mạnh mẽ như hiện nay, song sự vắng mặt của Tổng thống D.Trump và cũng là lần đầu từ năm 2013 một Tổng thống Mỹ không dự các sự kiện lớn ở khu vực là các Hội nghị cấp cao ASEAN và APEC càng khiến những mối hoài nghi gia tăng.

Chính sách Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ dường như vẫn dừng lại là tầm nhìn, chứ chưa phải một chiến lược cụ thể với các mục tiêu, biện pháp thực hiện hoặc khung thời gian chi tiết, mặc dù đây tiếp tục là điểm cốt lõi trong chính sách an ninh khu vực của Mỹ. Trong giai đoạn định hình chính sách này, Mỹ được kỳ vọng duy trì hợp tác tạo sân chơi bình đẳng, tự do và cởi mở, nhằm thực thi cam kết thúc đẩy sự “hợp lưu” của hai đại dương và “kết nối năng động” của hai vùng biển tự do và thịnh vượng, tạo không gian hợp tác châu Á rộng lớn hơn.

SƠN NINH

VietBao.vn

Hòn đảo nhỏ mang tầm chiến lược lớn ở biển Đông

Căn cứ hải quân Lombrum trên hòn đảo Manus thuộc Papua New Guinea có thể là mắt xích quan trọng mà các nhà hoạch định chiến lược Mỹ đang hướng đến nhằm chống lại sự mở rộng của Trung Quốc ở biển Đông.

Căn cứ Lombrum đang được Úc nâng cấp trước khi Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence hôm 17-11 thông báo Washington cũng tham gia nỗ lực này.

Căn cứ này sẽ cho phép Hải quân Mỹ quá cảnh để tiếp nhiên liệu và có thể đóng vai trò quan trọng trong nỗ lực giám sát hàng hải giữa lúcTrung Quốc triển khai các dự án hải quân trên khắp Thái Bình Dương.

Hon dao nho mang tam chien luoc lon o bien Dong

Úc và Mỹ bắt tay nâng cấp căn cứ Lombrum. Ảnh: SCMP

Lombrum – được Mỹ xây dựng năm 1944 – từng có đường băng dài 2,7 km, là nơi đồn trú của hàng chục ngàn lính thủy đánh bộ và có sức chứa khoảng 800 tàu, kho nhiên liệu và bệnh viện 3.000 giường.

Tuy nhiên, các nhà quan sát chiến lược cảnh báo Mỹ và Úc bắt tay triển khai kế hoạch khôi phục Lombrum cần thận trọng để tránh làm mếch lòng Indonesia. Các nhà phân tích cho rằng nhiệm vụ quan trọng trước mắt đối với Mỹ và Úc là trấn an Papua New Guinea và Indonesia về việc khôi phục Lombrum.

Việc Mỹ và Úc cùng nâng cấp Lombrum diễn ra chỉ vài tháng sau khi xuất hiện những đồn đoán Trung Quốc cũng có ý định xây dựng một cảng ở đảo Manus và dẫn đến hoài nghi Bắc Kinh để mắt đến căn cứ hải quân trên đảo này.

Hồi năm 2016, công ty China Harbour Engineering (Trung Quốc) đã thắng thầu phát triển sân bay Momote ở đảo này nhưng đến nay cả Trung Quốc và Papua New Guinea đều không xác nhận việc Bắc Kinh có đang cân nhắc xây dựng một cảng ở đây hay không.

Hon dao nho mang tam chien luoc lon o bien Dong

Người dân trên đảo Manus. Ảnh: SCMP

Ông Collin Koh, chuyên gia nghiên cứu về hàng hải ở Singapore, nhận định: “Kế hoạch nâng cấp căn cứ hải quân Lombrum là một phần trong chiến lược của Úc với các đồng minh, nhằm tăng cường mối liên kết với các quốc đảo Nam Thái Bình Dương trên nhiều mặt trận gồm ngoại giao, kinh tế và an ninh”.

Một số chuyên gia cho rằng căn cứ Lombrum có thể được xem là câu trả lời trực tiếp cho việc Trung Quốc quân sự hóa trái phép ở biển Đông. “Tiếp cận Lombrum là cách đáp trả đơn giản đối với những gì quân đội Trung Quốc làm ở biển Đông” – ông Peter Jennings thuộc Viện nghiên cứu chính sách chiến lược Úc nhận định.

Ông Jennings nhận xét: “Việc chuyển đổi sân bay Momote thành một cơ sở dùng cho cả mục đích quân sự và dân sự sẽ bắt đầu biến đảo Manus trở thành yếu tố chiến lược ở phía Tây và Bắc biển Đông”.

Xuân Mai (Theo SCMP)

VietBao.vn

Mỹ: “Nga đã đúng với chiến lược xuất khẩu S-400”

Thừa nhận trên được Tạp chí Business Insider của Mỹ đưa ra khi đăng tải bài viết nói về sự thành công của Nga khi xuất khẩu S400.

Theo bài viết, sở dĩ hệ thống tên lửa phòng không S-400 do Nga chế tạo giành được sự ưa chuộng to lớn trên thế giới là bởi mẫu vũ khí này sở hữu những đặc tính kỹ thuật ưu việt hơn hẳn các hệ thống phòng không của Mỹ.

Trong những năm gần đây, Nga đã ký một số hợp đồng cung cấp hệ thống tên lửa phòng không S-400. Hàng loạt nước thể hiện quan tâm đến việc mua các hệ thống tên lửa của Nga, như Algeria, Belarus và Trung Quốc.

Ngoài ra, các tác giả báo Business Insider còn nhắc về các đợt cung cấp S-400 cho Ấn Độ, Saudi Arabia và Thổ Nhĩ Kỳ, đã lên kế hoạch cho những năm tới.

My: "Nga da dung voi chien luoc xuat khau S-400"
Hệ thống S-400 Nga.

Báo lưu ý rằng Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan cũng bày tỏ mối quan tâm về mua các hệ thống tên lửa phòng không S-500 của Nga dù đang còn ở giai đoạn thiết kế chế tạo. Nga đã làm đúng khi tập trung đầu tư vào phát triển S-400, bài viết của Business Insider thừa nhận.

Vậy làm gì để phá bỏ vị thế S-400 của Nga? Các chuyên gia Mỹ cho rằng, trước hết, Mỹ phải chứng minh được sức mạnh của S-400 của Nga chỉ là tin đồn, nó chẳng khác gì hệ thống Patriot.

Thực tế Patriot của Mỹ đã thực chiến tại Arbia Saudi với lực lượng Houthi nhưng rất dở, hoàn toàn mất uy tín. Vấn đề là phải đưa S-400 của Nga vào thực chiến và làm cách nào đó để hạ bệ tin đồn về S-400 của Nga. Và, chiến trường thử lửa không đâu bằng Syria.

Đáng tiếc là trong 2 lần phóng ra hơn 164 quả tên lửa Tomahawk các loại (gồm loại mới đẹp thông minh) trên các phương tiện (máy bay, tàu chiến) từ nhiều hướng, nhưng S-400 Nga vẫn chưa khạc lửa.

Tư tưởng tác chiến của Nga là chỉ khi nào Mỹ đụng đến Nga thì Nga mới đụng đến Mỹ, nghĩa là chỉ khi nào Mỹ phóng tên lửa tấn công vào căn cứ Nga, người Nga thì lúc đó Nga mới đáp trả, nghĩa là lúc đó S-400 có thể được sử dụng.

Tuy nhiên, S-400 không phải chủ yếu là để tiêu diệt tên lửa hành trình, tên lửa đạn đạo… mà nếu như Mỹ tấn công Nga, thì không chỉ bắn hạ tên lửa Mỹ mà Nga, bằng mọi phương tiện, tất nhiên bao gồm S-400 để tiêu diệt nơi nó xuất phát.

Về phần mình, Mỹ phải cải tiến Patriot hiện đại hơn S-400, nhưng như thế vẫn chưa đủ mà về phần gốc, Mỹ phải loại bỏ công công cụ cai trị và quyền bá chủ của mình với đối tác thì các đối tác sẽ không quan tâm đến S-400 của Nga.

Rõ ràng cả 2 điều trên đều rất khó thực hiện với Mỹ, do đó, chỉ có cách thứ 3 là: Những quốc gia nào, kể cả đồng minh mà mua S-400 của Nga sẽ bị Mỹ cấm vận, trừng phạt. Đây là ưu thế vượt trội của Mỹ đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.

Tuy nhiên, cũng chính vì cách này đang khiến cho ngay cả những đồng minh thân thiết của Mỹ đã quay lưng sang đàm phán mua hệ thống S-400 Nga bất chấp cả những lời dọa nạt.

Đan Nguyên 

VietBao.vn

Lợi ích chiến lược tương đồng

Mối quan hệ giữa Ấn Độ và Ô-xtrây-li-a đang chứng kiến những chuyển động tích cực, sau khi Tổng thống Ấn Độ R.Cô-vin kết thúc tốt đẹp chuyến thăm Ô-xtrây-li-a với hàng loạt thỏa thuận hợp tác được hai bên ký kết. Những lợi ích song trùng của hai bên trong không gian rộng lớn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương chính là “chìa khóa” thúc đẩy Niu Đê-li và Can-bơ-rơ xích lại gần nhau.

Chuyến công du Ô-xtrây-li-a kéo dài ba ngày của Tổng thống Ấn Độ R.Cô-vin được coi là dấu mốc quan trọng trong lịch sử quan hệ hai nước, bởi đây là lần đầu, một vị tổng thống Ấn Độ tới thăm quốc gia châu Đại Dương. Trong khuôn khổ chuyến thăm, năm thỏa thuận hợp tác về những lĩnh vực quan trọng như vấn đề người khuyết tật, nghiên cứu nông nghiệp, giáo dục… đã được hai bên ký kết. Cao ủy Ấn Độ tại Ô-xtrây-li-a A.Gôn-đên nhấn mạnh, chuyến thăm là minh chứng cho triển vọng quan hệ hợp tác đầy tươi sáng của hai nước, bất chấp những “lùm xùm” gần đây liên quan vấn đề đường mía giữa Niu Đê-li và Can-bơ-rơ. Về phần mình, Thủ tướng Ô-xtrây-li-a X.Mô-ri-xơn cho rằng, trong vòng 20 năm tới, Ấn Độ sẽ là thị trường mang lại nhiều cơ hội nhất cho các doanh nghiệp Ô-xtrây-li-a.

Song hành cùng hợp tác về kinh tế, hợp tác về an ninh – quốc phòng từ lâu đã được giới lãnh đạo Ô-xtrây-li-a và Ấn Độ tập trung thúc đẩy. Hai bên nỗ lực duy trì cơ chế đối thoại cấp thứ trưởng ngoại giao và quốc phòng 2+2 nhằm tăng cường quan hệ đối tác chiến lược song phương. Theo Bộ Ngoại giao Ấn Độ, Niu Đê-li và Can-bơ-rơ có mối quan hệ song phương nồng ấm dựa trên những giá trị dân chủ chung. Hai nước cũng phối hợp chặt chẽ trong việc chia sẻ thông tin chống mối đe dọa của bóng ma khủng bố, nhất là của tổ chức tự xưng Nhà nước Hồi giáo (IS).

Trên thực tế, sự xích lại gần nhau của Ấn Độ và Ô-xtrây-li-a không chỉ bởi những giá trị chung mà hai bên cùng chia sẻ trong quan hệ song phương, mà còn bởi những lợi ích chiến lược tương đồng từ các sáng kiến kết nối khu vực. Năm 2014, Thủ tướng Ấn Độ N.Mô-đi đã có bài phát biểu trước toàn thể nghị sĩ Quốc hội Ô-xtrây-li-a. Trong đó, ông N.Mô-đi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy một nền hòa bình và ổn định tại khu vực, bảo đảm an ninh hàng hải; đồng thời kêu gọi các nước không nên làm ngơ trước những rủi ro đang trỗi dậy đối với nền hòa bình của châu Á – Thái Bình Dương.

Nhận ra vai trò và những lợi ích chiến lược tương đồng của Ấn Độ và Ô-xtrây-li-a tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, Pháp – một trong những cường quốc ở châu Âu – cũng thể hiện quyết tâm mở rộng tầm ảnh hưởng tại khu vực rộng lớn này bằng việc kêu gọi thành lập liên minh với cả hai nước. Trong chuyến thăm Ô-xtrây-li-a vào tháng 5 vừa qua, Tổng thống Pháp E.Ma-crông đã nêu sáng kiến thành lập một “trục chiến lược” mới gồm ba bên là Pháp, Ô-xtrây-li-a và Ấn Độ. Sở dĩ Pháp hướng tới khu vực này, bởi đây là nơi mà Pa-ri có sự gắn bó mật thiết về mặt lợi ích, với nhiều vùng lãnh thổ hải ngoại và các căn cứ quân sự đóng tại đây. Theo Pháp, liên minh chiến lược ba nước sẽ giữ “vai trò trung tâm” trong việc bảo đảm an ninh và thịnh vượng, trên cơ sở duy trì cân bằng quyền lực ở khu vực và góp phần thúc đẩy trật tự thế giới hòa bình, ổn định, dựa trên luật lệ. Nhiều nhà quan sát cho rằng, nếu sáng kiến trục chiến lược Pa-ri – Can-bơ-rơ – Niu Đê-li đi vào cuộc sống thì đây sẽ là chìa khóa góp phần duy trì tầm ảnh hưởng chiến lược của các bên tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, mục tiêu chung mà các bên cùng hướng tới.

Với những lợi ích chiến lược song trùng, việc Ấn Độ và Ô-xtrây-li-a thắt chặt quan hệ song phương về nhiều mặt là lẽ tất yếu, trong bối cảnh châu Á đang nổi lên là một trọng tâm của các hệ thống và toan tính chiến lược toàn cầu. Sự kết nối chặt chẽ hơn giữa Niu Đê-li và Can-bơ-rơ, hai “mắt xích” quan trọng trong các sáng kiến liên kết khu vực, cũng sẽ ảnh hưởng đến cục diện toàn khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương rộng lớn trong thời gian tới.

MINH BẢO

VietBao.vn