Vì sao cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975?

 Nếu không có sự kiện 30/4/1975 thì sớm muộn quân đội Sài Gòn cũng chỉ có nước giải tán vì hết tiền, một phụ tá của ông Nguyễn Văn Thiệu viết trong hồi ký khi bàn về cuộc chiến tranh Việt Nam. 

Sài Gòn cạn tiền hết đạn

Trong hồi ký Đại thắng mùa xuân, Đại tướng Văn Tiến Dũng cho biết vào cuối năm 1974, ta biết được sức chiến đấu của quân đội Sài Gòn suy giảm nghiêm trọng vì thiếu xăng dầu, đạn dược. Chính điều đó đưa đến quyết tâm lập kế hoạch mở chiến dịch của ta. Tuy nhiên, phía ta không biết rằng, vào thời điểm đó, tình hình chính quyền và quân đội Sài Gòn còn bi đát hơn nhiều.

Vi sao cuoc chien tranh Viet Nam ket thuc nam 1975?
  Tờ lịch ngày Giải phóng Miền Nam. Ảnh: Giáo dục Việt Nam.

Từ khi được dựng lên trong chiến tranh Việt Nam, chính quyền Sài Gòn dựa hoàn toàn vào viện trợ kinh tế. Viện trợ là nguồn tài chính chủ yếu của mọi hoạt động từ quân sự tới xã hội. Nhưng từ sau Hiệp định Paris và nhất là từ năm 1974, nền kinh tế Sài Gòn rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng do viện trợ bị cắt giảm nhanh chóng. Theo những thông tin mật của hồ sơ Dinh Độc lập được trích dẫn trong cuốn Khi đồng minh tháo chạy của Nguyễn Tiến Hưng, viện trợ quân sự cho tài khóa 1974-1975 được Nixon ấn định một tỷ dolar. Tuy nhiên, khi đưa ra Quốc hội Mỹ, nó bị cắt giảm chỉ còn 700 triệu.

Tình hình viện trợ kinh tế cũng không sáng sủa hơn. Ông Hưng viết: “Vào đầu năm 1974, có tin dồn dập là Quốc hội Hoa kỳ sẽ đi tới việc cấm cả dùng viện trợ để tài trợ ngân sách Quốc phòng. Vài tháng sau thì tin đồn thành sự thực. Trước kia, 75% sự thiếu hụt ngân sách là do tài trợ bằng tiền của Quỹ đối giá (Counterpart Fund). Quỹ đối giá là một ngân khoản thu được khi tiền Viện Trợ Nhập Cảng (CIP) được đổi ra bạc Việt Nam. Thí dụ, một thương gia muốn nhập cảng bông gòn phải đem tiền Việt Nam đến ngân hàng xin mua Mỹ kim mở tín dụng thư. Số tiền này được đưa vào Quỹ đối giá. Đến nay, không những viện trợ đã bị giảm, mà Quỹ đối giá lại không còn được dùng để chi tiêu cho quốc phòng nữa”.

Sau tin sét đánh này, Quốc hội Mỹ dưới áp lực của phe phản chiến đi thêm một bước nữa, bắt đầu từ 31/12/1974 sẽ cấm cả việc dùng Quỹ đối giá để trả lương cho lực lượng cảnh sát. Lúc đó, cảnh sát chính quyền Sài Gòn có 120.000 người. Chỉ một tháng lương của lực lượng này cũng là một món tiền không nhỏ.

Những nhân tố kinh tế này đã tác động rất lớn vào tinh thần của quân đội và chính quyền Sài Gòn ở cấp cao nhất. Nhiều năm sau nhìn lại, ông Nguyễn Tiến Hưng vẫn không tìm ra giải pháp nào cho tình hình lúc đó. Ông nói: “Nhìn vào viễn ảnh kinh tế, tài chính và quân sự Miền Nam cuối năm 1974 như nhìn vào chân trời tím. Những đám mây đen đặc đang ùn ùn kéo tới báo hiệu cho một cơn bão tố từ xa xa. Và như vậy, ta có thể đặt thêm một câu hỏi khác: từ năm 1976 Việt Nam cộng hoà sẽ lấy tiền đâu trả lương cho quân đội và cảnh sát? Sau 30 năm, tôi cũng chưa tìm ra được câu trả lời. Khi không còn tiền trả lương, chắc chỉ còn một giải pháp là giải ngũ? Trên thực tế, năm 1974 đã là năm quyết định số mệnh cho Miền Nam Nam rồi vậy”.

Cùng lúc đó, dự trữ đạn dược, xăng dầu và vật tư quân sự nói chung của quân đội Sài Gòn cũng khan hiếm nghiêm trọng. Theo dự tính của Bộ Tổng tham mưu chế độ Sài Gòn: dự trữ đạn dược tồn kho chỉ còn cung ứng được từ 30 tới 45 ngày. Tướng Cao Văn Viên kết luận rằng nếu tình hình chiến sự cứ tiếp tục xảy ra theo cùng một nhịp độ thì số đạn tồn kho sẽ hết vào tháng Sáu 1975, nếu không nhận được thêm viện trợ. Với tình hình đó, tác giả cuốn Khi đồng minh tháo chạy kết luận: “Như vậy, ta có thể đặt câu hỏi quan trọng về phương diện lịch sử, là: nếu như không có biến cố 30/4/1975 thì tới tháng Sáu, cho già lắm là tháng Tám hay tháng Chín, chính quyền Sài Gòn sẽ lấy gì mà chiến đấu?”

Bí mật trong quyết định từ bỏ cao nguyên

Từ trước đến nay, các nhà chiến lược khi xem xét cuộc tổng tiến công nổi dậy năm 1975 đều khẳng định rằng chính quyết định vội vã rút khỏi Tây Nguyên của Tổng thống Thiệu là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng của quân đội Sài Gòn. Vậy đâu là lý do khiến ông Thiệu đưa ra quyết định “vội vàng” này?

Vi sao cuoc chien tranh Viet Nam ket thuc nam 1975?
 Hình ảnh bộ đội Sư đoàn 316 tiến công tiêu diệt Buôn Ma Thuột trong trận mở màn Chiến dịch Tây Nguyên (4 – 24/3/1975). Ảnh: Giáo dục Việt Nam. 

Thực tế, quyết định của ông Thiệu có cơ sở và được nghiên cứu từ trước chứ không phải hồ đồ như nhiều người vẫn phê phán. Nguyễn Tiến Hưng kể rằng, vào khoảng cuối năm 1974, ông đã được Tổng thống Thiệu cho xem một báo cáo về khả năng chiến đấu của quân đội Sài Gòn do Bộ Tổng Tham mưu trình lên. Phần kết luận của báo cáo này viết: Nếu mức độ quân viện là 1,4 tỷ thì có thể giữ được tất cả những khu đông dân cư của cả bốn Vùng Chiến Thuật; nếu là 1,1 tỷ thì Quân khu 1 phải bỏ; nếu là 900 triệu thì khó lòng giữ được QK I và II, hoặc khó đương đầu với cuộc tổng tấn công của Bắc Việt; nếu là 750 triệu thì chỉ có thể phòng thủ vài khu vực chọn lọc, và khó điều đình được với Bắc Việt; nếu quân viện dưới 600 triệu thì Chính phủ VNCH chỉ còn giữ được Sài gòn và vùng châu thổ sông Cửu Long.

Trên thực tế, đến tháng 8/1974, Quốc hội Mỹ duyệt viện trợ quân sự cho Sài Gòn chỉ có 700 triệu. Cứ theo báo cáo thì quân đội Sài Gòn chỉ có thể phòng thủ vài khu vực chọn lọc và phải bỏ quân khu I, II. Niềm hy vọng cuối cùng của ông Thiệu về khoản 300 triệu mà ông xin Mỹ viện trợ gấp sau khi mất Phước Long cũng tan thành mây khói. Quốc hội Mỹ đầu năm 1975 quyết định không cho Sài Gòn thêm nữa dù một đồng.

Chính bởi những yếu tố đó nên khi Buôn Ma Thuột mất, Thiệu liền ra lệnh rút khỏi cao nguyên. Thiệu nói: “Chắc chắn chúng ta không thể bảo vệ được tất cả lãnh thổ muốn bảo vệ. Như vậy chúng ta nên tái phối trí lực lượng và bảo vệ những vùng đông dân, trù phú, vì những vùng đất đó mới thực sự quan trọng”.

Tuy nhiên, ý định rút quân chiến lược của ông Thiệu không thực hiện được vì các đơn vị rút đi đều bị chặn đánh tơi tả. Ý định tử thủ Đà Nẵng để chặn bước tiến của quân Giải phóng cũng không thành và cuối cùng Sài Gòn được giải phóng ngày 30/4/1975, kết thúc cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc 30 năm.

Những dữ kiện của tác giả Nguyễn Tiến Hưng đã giúp ta biết thêm tình hình chính quyền Sài Gòn vào những ngày tháng cuối cùng để hiểu thêm một phần nguyên nhân dẫn đến ngày 30/4/1975. Tuy nhiên, tác giả có ý nhấn mạnh viện trợ kinh tế như một lý do quyết định sự thất bại của họ để giảm nhẹ chiến thắng của quân đội Giải phóng. Nhưng chính đó lại nói rõ hơn cái chiều hướng thất bại tất yếu của họ. Bởi lẽ, một chính quyền, một quân đội không có nội lực mà chỉ trông đợi vào người khác thì sớm muộn sẽ bị đánh bại mà thôi.

Vũ Tiến Đức

VietBao.vn

Việt Nam năm 1975 trong ảnh của phóng viên Iran (2)

Viet Nam nam 1975 trong anh cua phong vien Iran (2)

Các đội viên Thiếu niên Tiền phong diễu hành trong công viên Thống Nhất ở Hà Nội, Việt Năm năm 1975. Ảnh: A. Abbas/ Magnum Photos.

Viet Nam nam 1975 trong anh cua phong vien Iran (2)

Thánh lễ đêm Giáng sinh 1975 tại nhà thờ Lớn ở Hà Nội. Ảnh: A. Abbas/ Magnum Photos.

Viet Nam nam 1975 trong anh cua phong vien Iran (2)

Xác máy bay B-52 của Mỹ được trưng bày trong vườn thú Hà Nội. Ảnh: A. Abbas/ Magnum Photos.

Viet Nam nam 1975 trong anh cua phong vien Iran (2)

Hầm trú bom thời kháng chiến chống Mỹ trở thành nơi vui chơi của trẻ em Hà Nội sau khi chiến tranh kết thúc. Ảnh: A. Abbas/ Magnum Photos.

Viet Nam nam 1975 trong anh cua phong vien Iran (2)

Du khách tham quan Bảo tàng Cách mạng ở Hà Nội. Ảnh: A. Abbas/ Magnum Photos.

Viet Nam nam 1975 trong anh cua phong vien Iran (2)

Một chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam ngồi nghỉ bên bờ sông Hàn ở Đà Nẵng năm 1975, ít lâu sau khi thành phố được giải phóng. Ảnh: A. Abbas/ Magnum Photos.

Viet Nam nam 1975 trong anh cua phong vien Iran (2)

Hai chiến sĩ tuần tra trên đường phố Đà Nẵng buổi tối. Ảnh: A. Abbas/ Magnum Photos.

Viet Nam nam 1975 trong anh cua phong vien Iran (2)

Một họa sĩ trẻ ở Đà Nẵng vẽ bức tranh Bác Hồ dựa theo một bức ảnh. Ảnh: A. Abbas/ Magnum Photos.

Viet Nam nam 1975 trong anh cua phong vien Iran (2)

Người nữ dân quân canh gác bên ngoài một tòa nhà ở Đà Nẵng với khẩu súng M16 của Mỹ. Ảnh: A. Abbas/ Magnum Photos.

Viet Nam nam 1975 trong anh cua phong vien Iran (2)

Một chiến sĩ làm nhiệm vụ canh gác kho chữa máy bay ở Đà Nẵng. Ảnh: A. Abbas/ Magnum Photos.

Viet Nam nam 1975 trong anh cua phong vien Iran (2)

Dòng người viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội tháng 1/1976. Ảnh: A. Abbas/ Magnum Photos.

VietBao.vn

Người ‘hòa giải’ cho văn học trước 1975

– Tôi tin rằng nhìn nhận văn học quá khứ một cách công bằng, khách quan sẽ góp phần hòa giải, hòa hợp dân tộc.

GS Huỳnh Như Phương là nhà giáo chuyên giảng dạy lý thuyết văn học ở Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM, đồng thời là nhà nghiên cứu, phê bình văn học trước năm 1975. lúc chưa tới tuổi 20, Huỳnh Như Phương đã có bài đăng trên các tạp chí có khuynh hướng thiên tả lúc đó như Trình Bầy, Đối Diện.

Văn học miền Nam là thành phần hữu cơ của văn học dân tộc

. Pháp Luật TP.HCM:Thưa ông, được biết thời đại học, hai năm đầu ông học triết ở ĐH Văn khoa Sài Gòn, sau ngày thống nhất ông lại được ra Hà Nội học tiếp về văn học. Ông có cho trường hợp mình là may mắn vì được học ở hai nền giáo dục hoàn toàn khác nhau để bổ sung cho nhau?

+ GS Huỳnh Như Phương: Chúng ta là đồng môn, chắc anh hiểu rõ hoàn cảnh khó khăn những năm tháng đó. Nhiều lớp sinh viên ở ban Triết có bằng cử nhân đã không thể tìm được việc làm. Lớp chúng tôi học dở dang, được chuyển sang ngành văn, phải kéo dài sáu năm ở đại học nhưng vẫn may mắn hơn nhiều người khác không có điều kiện theo đuổi con đường học vấn. Nghĩ đến sự may mắn của mình, nhiều khi tôi cảm thấy có lỗi với một số người cùng thế hệ. Tôi đã thụ hưởng nền giáo dục miền Nam từ tiểu học đến đại học, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa bốn năm đại học và bốn năm sau đại học. Không thể nói phần nào quan trọng hơn nhưng nếu mình biết chắt lọc và tiếp thu thì chắc chắn cả hai đều có ích cho nghề nghiệp hiện nay.

. Ông có thể kể lại vài kỷ niệm đáng nhớ về những năm học ĐH Văn khoa Sài Gòn và ĐH Tổng hợp Hà Nội?

+ Khuôn khổ trang báo không cho phép tôi nói gì nhiều. Vả chăng, những kỷ niệm đó tôi đã ghi lại trong hai bài viết “Văn Khoa ngày tháng cũ”“Hà Nội trong sương mù ký ức”, hiện còn lưu giữ trên các trang mạng. Tôi nghĩ rằng đó là những cơ hội cho tôi hiểu sâu hơn hoàn cảnh đã tác động đến con người như thế nào và người ta có khả năng kháng cự lại hoàn cảnh hay không. Đôi khi tôi nghĩ vẩn vơ nếu như đất nước thống nhất sớm hơn hoặc muộn hơn, thân phận của những người trẻ thế hệ chúng tôi sẽ thay đổi ra sao. Và trong cái tình huống cực đoan của lịch sử đất nước ta, con người phải làm gì để giữ được chân dung tinh thần của mình.

Văn học ở miền Nam là một thành phần hữu cơ của văn học dân tộc. Nhìn nhận một cách công bằng, khách quan sẽ góp phần hòa giải, hòa hợp dân tộc.

Nguoi ��hoa giai�

GS Huỳnh Như Phương.

“Tôi thấy mình phải có trách nhiệm giới thiệu về văn học miền Nam”

. Có phải do có thời gian học ở ĐH Văn khoa Sài Gòn mà trong một số tác phẩm, đề tài khoa học và nhiều bài viết, ông đã đầu tư nghiên cứu về văn học miền Nam trước 1975?

+ Thật ra năm 1975 tôi mới vừa 20 tuổi, trước đó có mấy bài đăng báo nhưng đọc và tích lũy tư liệu về văn học chưa được bao nhiêu. Sau này, vì công việc dạy học, tôi thấy mình phải có trách nhiệm sưu tầm, giới thiệu với sinh viên hoạt động văn học ở miền Nam mà tôi luôn quan niệm đó là một thành phần hữu cơ của văn học dân tộc. Cuốn sách đầu tiên tôi biên soạn được xuất bản ngay từ đầu thời đổi mới là một tuyển tập truyện ngắn miền Nam có nhan đề Mùa xuân chim én bay về (NXB Cửu Long, 1986). Từ ấy đến nay tôi có viết một số bài và tham gia hai công trình nghiên cứu tập thể về đề tài này. Điều khiến tôi ngạc nhiên và thú vị nhất là những người khuyến khích và giúp đỡ chúng tôi trong công việc này không chỉ là các nhà văn, nhà nghiên cứu ở miền Nam mà còn có những đồng nghiệp rất nhiệt tâm ở Viện Văn học, ĐH Sư phạm và ĐH Quốc gia Hà Nội. Gần đây tôi lại có niềm vui là sau khi công bố những bài viết về chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa cấu trúc và chủ nghĩa Marx ở miền Nam, tôi nhận được phản hồi, góp ý từ những học giả cao niên rất có uy tín.

. Hồi tháng 10 năm ngoái, Hội Nhà văn Việt Nam (VN) đã tổ chức cuộc tọa đàm “Nhận diện văn chương Hà Nội thời tạm chiếm (1947-1954)” với nhìn nhận: “Văn học sử VN còn mắc nợ văn chương Hà Nội vì đã bỏ quên một không gian văn học đầy giá trị…”. Thế còn những tác phẩm giá trị của nhiều nhà văn đô thị miền Nam thời kỳ 1954-1975, Hội Nhà văn VN và Hội Nhà văn TP.HCM (mà ông từng là thành viên ban chấp hành) có thấy mắc món nợ văn chương này không?

+ Tôi không phải hội viên Hội Nhà văn VN nên không đủ thẩm quyền trả lời câu hỏi này của anh. Tôi có tham gia ban chấp hành Hội Nhà văn TP.HCM một nhiệm kỳ (2005-2010), người ít, chỉ việc khảo sát, tổng kết hoạt động sáng tác đương thời và tổ chức giao lưu, trao đổi kinh nghiệm đã không đủ thời gian. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng những người thiện chí đều thừa nhận đó là một món nợ, món nợ lớn mà trả thì quá chậm. Tình hình gần đây có vẻ thuận lợi hơn nhưng điều đáng buồn là giới nghiên cứu, phê bình trong nước chưa quan tâm đúng mức đến việc này. Có lẽ cuộc sống bây giờ có quá nhiều nỗi lo, nỗi lo văn học chưa phải là điều bức xúc nhất chăng? Dù sao hiện nay khó ai bác bỏ được sự thật là trong những năm chiến tranh, giới trí thức sáng tạo ở miền Nam đã cho ra đời nhiều tác phẩm mang phẩm cách dân tộc, tinh thần nhân đạo và giá trị nghệ thuật theo hướng cách tân và hiện đại. Tôi luôn tin rằng nhìn nhận văn học quá khứ một cách công bằng, khách quan sẽ góp phần hòa giải, hòa hợp dân tộc và phát huy các nguồn lực tinh thần để bảo vệ, phát triển đất nước.

Chưa bao giờ không gian văn học mở rộng như những ngày này. Lớp nhà văn, nhà phê bình độ tuổi trên dưới 40 hiện nay rất đáng nể.

Phê bình bị chê trách vì không chống đỡ được với óc bè phái

. Trong một giai đoạn mà phê bình văn học có phần vắng lặng, có ý kiến đánh giá phê bình văn học hiện nay chủ yếu là khen ngợi và ve vuốt nhau. Theo ông, nhận xét như thế có quá khe khắt không?

+ Không thể chối cãi đó là một phương diện của đời sống phê bình văn học hiện nay. Phê bình bị chê trách vì không chống đỡ được với những cám dỗ của tính vụ lợi, sự đố kỵ, óc bè phái và sự đả kích cá nhân. Những người làm phê bình như chúng tôi chắc chắn là có lỗi rồi nhưng bạn đọc và báo chí cũng có một phần trách nhiệm. Thử hỏi bạn đọc bây giờ có thích đọc phê bình không, báo chí có chịu đăng những bài phê bình đúng nghĩa không? Biết bao nhiêu cuộc hội thảo, tọa đàm đã lên tiếng, đề xuất giải pháp nhưng sao tình hình phê bình vẫn chưa được cải thiện? Có lẽ phải cần thời gian suy nghĩ kỹ hơn, sâu hơn để tìm câu trả lời đích thực về điều này. Mặt khác, cũng không nên đặt trên vai phê bình một sứ mạng quá lớn.

Một thế hệ cây bút mới đang xuất hiện và khẳng định mình không phải chủ yếu bằng những phương tiện và con đường của những lớp nhà văn trước đây: các tạp chí văn nghệ, các giải thưởng văn học, sự tán dương của giới phê bình… Những hồi ứng của bạn đọc chưa bao giờ nhanh nhạy như hiện nay và điều đó làm bộc lộ sự chậm chạp, trễ nải và cả uy tín sút giảm của phê bình chuyên nghiệp. Tất nhiên, thời nào cũng có những cây bút viết sơ lược, sáo mòn về đề tài, bút pháp, chạy theo những vinh hoa phù phiếm. Nhưng thời nào cũng phát hiện được tài năng đích thực. Tôi thấy lớp nhà văn, nhà phê bình độ tuổi trên dưới 40 hiện nay rất đáng nể, tôi tin là họ sẽ làm nên chuyện.

. Xin cám ơn ông về cuộc trao đổi này.

GS Huỳnh Như Phương

• Theo học ban Triết ĐH Văn khoa Sài Gòn (1973-1975).

• Học khoa Ngữ văn ĐH Văn khoa TP.HCM và ĐH Tổng hợp Hà Nội.

• Nghiên cứu sinh Viện Văn học thế giới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô năm 1986-1990.

• Phó trưởng khoa, trưởng khoa Ngữ văn và Báo chí.

• Giáo sư thỉnh giảng ở ĐH Paris 7, ĐH Sư phạm, ĐH Đà Lạt…

Các tác phẩm

Dẫn vào tác phẩm văn chương, Những tín hiệu mới, Trường phái hình thức Nga, Những nguồn cảm hứng trong văn học, Lý luận văn học – nhập môn, Hãy cầm lấy và đọc… Ông cũng là tác giả những tập tản văn: Ngôi nhà và con người, Bây giờ mà có về quê…, Les Espaces verts de Saigon.

PHẠM CHU SA thực hiện

VietBao.vn