Những phương pháp phẫu thuật trong lịch sử, không dành cho người yếu tim

Để có được những biện pháp điều trị hiệu quả như ngày nay, con người đã phải trải qua thời gian dài để kiểm nghiệm những biện pháp chữa bệnh sơ khai, thậm chí phản khoa học, mang lại đau đớn hoặc có thể dẫn đến tử vong, và chỉ cần nhắc tới tên gọi của những biện pháp phẫu thuật kinh hoàng này, có thể khiến người nghe sởn da gà…

Phương pháp điều trị khủng khiếp

Đầu tiên phải nhắc tới đó là phương pháp phẫu thuật khoan sọ, đúng như tên gọi của nó, là một hình thức phẫu thuật trong đó người ta khoan hay cạo một lỗ trên hộp sọ người bệnh. Con người đã áp dụng biện pháp này từ thời xa xưa.

Hiện không thể tìm thấy tư liệu nào giải thích nguyên nhân đằng sau biện pháp này, nhưng một số chuyên gia tin rằng nó nhằm mục đích giải phóng ma quỷ ra khỏi hộp sọ. Tuy nhiên, một số người có thể sống sót nhiều năm sau đó, dựa trên bằng chứng là các hộp sọ cổ đại cho thấy dấu hiệu liền xương sau khi khoan.

Tuy rằng các bác sĩ ngày nay không còn khoan lỗ trên hộp sọ bệnh nhân để giải phóng ma quỷ quấy nhiễu, nhưng hiện vẫn ghi nhận trường hợp áp dụng biện pháp này để làm giảm áp suất bên trong hộp sọ (áp lực nội sọ).

Như một bác sĩ ở Úc đã sử dụng máy khoan điện gia dụng (không phải dụng cụ y tế) để khoan một lỗ trên hộp sọ của một cậu bé 13 tuổi bị ngã xe đạp và đầu đập xuống đất. Nếu không làm vậy, cậu có thể đã chết vì một cục huyết khối (máu đông) hình thành trong não bộ.

Phẫu thuật thùy não là một biện pháp được ứng dụng rộng rãi trong thế kỷ 20 và nó còn ghê rợn hơn cả việc khoan sọ. Trong đó, người tiến hành sẽ dùng một dụng cụ giống dùi nhọn để cắt đứt dây thần kinh liên kết khu vực thùy não trước với phần còn lại của não bộ, nhằm mục đích chữa bệnh tâm thần. Antonio Egas Moniz, một nhà thần kinh học người Bồ Đào Nha, đã phát minh ra phương pháp này vào năm 1935. Walter Freeman là người mang phương pháp này đến Mỹ.

Ông sẽ lái xe vòng quanh để tiến hành điều trị cho hàng nghìn bệnh nhân. Ông đã dùng một cây dùi thật sự để tiến hành thao tác trong thùy não bệnh nhân, tiếp cận khu vực này với sự hỗ trợ của một cây búa. Bệnh nhân không được gây mê.

Khi nhiều loại thuốc tâm thần mới được phát triển, phương pháp này đã dần dần trở nên ít được ưa chuộng trong thập niên 60. Freeman đã tiến hành hai ca phẫu thuật thùy não cuối cùng vào năm 1967. Một bệnh nhân trong đó đã qua đời 3 ngày sau phẫu thuật.

Các tư liệu Hy Lạp, La Mã và Ba Tư cổ đại có đề cập đến một loại hình phẫu thuật loại bỏ sỏi bàng quang. Một dụng cụ phẫu thuật được luồn vào bàng quang thông qua khu vực đáy chậu – vùng giữa hậu môn và bộ phận sinh dục.

Thậm chí, người ta còn đưa dụng cụ phẫu thuật vào trực tràng hay niệu đạo (ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài cơ thể), tác động vào khu vực này để hỗ trợ việc lấy sỏi. Đây là một quy trình phẫu thuật cực kỳ đau đớn với tỷ lệ tử vong lên đến khoảng 50%.

Số ca phẫu thuật lấy sỏi được tiến hành như vậy bắt đầu giảm vào thế kỷ 19, và được thay thế bằng các phương pháp loại bỏ sỏi bàng quang nhân đạo hơn. Việc áp dụng chế độ dinh dưỡng tốt cho sức khỏe vào thế kỷ 20 cũng giúp giảm thiểu phần nào sỏi bàng quang.

Bệnh giang mai xuất hiện ở Ý vào thế kỷ 16. Chứng bệnh này có một triệu chứng gây mất thẩm mỹ bề mặt, gọi là “mũi tẹt hình yên ngựa”, trong đó sóng mũi bị sụp xuống. Thời đó tình trạng biến dạng mũi này được coi là dấu hiệu của tính cách thiếu suy xét hay thận trọng , nên nhiều người mắc phải đã cố gắng che giấu nó.

Một bác sĩ người Ý, tên Gaspare Tagliacozzi, đã phát triển một phương pháp nhằm che giấu tình trạng biến dạng mũi, bằng cách tạo ra một chiếc mũi mới từ bắp tay. Quy trình như sau: Ông sẽ cho cắt hai đường song song trên bắp tay bệnh nhân, sau đó luồn một lưỡi dao bên dưới giữa hai đường cắt, rồi nhét lớp vải vào bên trong.

Ông sẽ để lớp vải tại đây trong khoảng 3 tuần, để đảm bảo lớp da làm mũi bên trên không gắn liền trở lại với phần cơ thịt bên dưới. Sau đó ông sẽ cắt bỏ một đầu lớp da làm mũi và khâu nó vào chóp mũi người bệnh và cố định như vậy trong khoảng 2 tuần để phần da cấy ghép được gắn chặt vào mũi.

Trong 2 tuần này, bệnh nhân sẽ dùng một khung giá đỡ để cố định cánh tay, sao cho phần da cấy ghép gắn liền mũi và lớp da trên bắp tay không bị tác động lực. Sau đó, phần đầu bên kia lớp da làm mũi gắn vào bắp tay sẽ bị cắt rời, toàn bộ lớp da cấy ghép sẽ được nhào nặn để tạo thành lớp da bao phủ gắn bên ngoài phần mũi cũ. Từng ghi nhận trường hợp mũi bệnh nhân trở nên tím tái vào mùa đông lạnh giá rồi rụng xuống. Ngày nay, bệnh giang mai có thể được điều trị dễ dàng bằng kháng sinh.

Theo y học hiện đại, mất máu (chảy máu hay xuất huyết) thường được nhìn nhận là một điều xấu. Nhưng trong khoảng 2.000 năm, trích máu (chủ đích làm chảy máu) lại là một phương pháp điều trị phổ biến nhất được thực hiện.

Trích máu được dựa trên một lý thuyết y học cổ đại cho rằng có bốn loại chất dịch trong cơ thể, hay “thể dịch” (máu, niêm dịch, mật đen và mật vàng—tương ứng với bốn nguyên tố cơ bản cấu thành vũ trụ là không khí, đất, lửa và nước). Sự mất cân bằng của 4 loại thể dịch này sẽ dẫn đến bệnh tật.

Để lấy lại sự cân bằng của 4 thể dịch, người ta dùng lưỡi dao hoặc lưỡi trích (một số được gắn lò xo để tăng lực tác động) để tách mở tĩnh mạch, thậm chí động mạch nhằm làm chảy máu trong khoảng vài ngày. Trích máu được áp dụng ở phương Tây cho đến khoảng thế kỷ 19. Năm 1838, Henry Clutterbuck, một giảng viên tại Tổ chức Y khoa Royal College of Physicians, tuyên bố “trích máu là một phương pháp điều trị không thể đánh giá quá cao cho dù được thận trọng áp dụng”.

Có nhiều vụ việc đáng tiếc đã xảy ra khi áp dụng biện pháp này. Ví dụ như khi George Washington bị viêm họng vào năm 1799, các bác sĩ đã trích lấy gần nửa lượng máu của ông và tạo nên một vết phồng giộp trên cổ họng. Trong vòng một ngày, ông qua đời.

Nhung phuong phap phau thuat trong lich su, khong danh cho nguoi yeu tim Hình ảnh mô phỏng hình thức khoan xương sọ từng được thực hiện trong lịch sử.

Cách chữa bệnh đặc biệt

Nếu không được tiến hành bằng các phương pháp can thiệp từ phẫu thuật thì những liệu pháp chữa bệnh từng được ghi nhận trong lịch sử cũng hết sức đặc biệt. Chữa bệnh bằng nước tiểu vẫn được coi là cách chữa bệnh ấu trĩ, phản khoa học chỉ còn gặp ở những người già cả ở vùng nông thôn.

Ngoài việc uống nước tiểu của chính mình, liệu pháp trị bệnh bằng nước tiểu còn dưới hình thức đổ trực tiếp nước tiểu vào da. Liệu pháp này được phổ biến rộng rãi bởi John W.Armstrong, người Anh trong việc điều trị các căn bệnh khác nhau bằng nước tiểu bao gồm đau răng, đau mãn tính.

Những người ủng hộ phương pháp này cho rằng nước tiểu có chứa các kháng thể cần thiết giúp cơ thể chống lại nhiều bệnh tật nhưng hiện vẫn chưa có nghiên cứu khoa học chuyên sâu nào khẳng định vấn đề này. Chưa hết việc sử dụng bánh mì mốc để điều trị bệnh cũng là một cách làm từng xuất hiện trong lịch sử y khoa.

Bánh mì nấm mốc, lên men từng được sử dụng để điều trị các vết thương ở Serbia, Trung Quốc và Hy Lạp cổ. Nó giúp ngăn ngừa các vết thương nhiễm trùng. Việc sử dụng bánh mì mốc được coi là một trong những dạng thuốc kháng sinh đầu tiên và lâu đời nhất để chống lại bệnh tật.

Thủy ngân được biết đến là một kim loại độc nhưng nó từng được sử dụng như một lọ thuốc xịt thông thường và được kê theo toa cho bệnh nhân. Người Ba Tư và Hy Lạp sử dụng nó phổ biến vì coi đây là một loại thuốc thơm hữu ích. Người Trung Quốc tiêu biểu như Tần Thủy Hoàng tin dùng thủy ngân để tăng tuổi thọ, tìm kiếm sự trường sinh bất lão.

Thủy ngân cũng được sử dụng để điều trị căn bệnh giang mai trong giai đoạn khoảng từ năm 1363 đến năm 1910. Các hợp chất này có thể được bôi trực tiếp lên da, uống hoặc tiêm nhưng các tác dụng phụ tiềm tàng bao gồm: Tổn thương da trên diện rộng, màng nhầy, tổn thương thận và não bộ, thậm chí là tử vong.

Ngoài ra, biện pháp gây sốc insulin cũng là liệu pháp trị liệu chứng chuột rút, là một trong những điều trị thành công đầu tiên cho bệnh nhân tâm thần phân liệt. Nhưng phương pháp điều trị này rất khó chịu và gây nguy hiểm cho người bệnh. Insulin ban đầu được sử dụng để giảm bớt lo lắng, căng thẳng, run, nôn mửa, giảm cân nhưng khi sử dụng ở liều cao hơn bệnh nhân sẽ rơi vào trạng thái vô thức, không nổi loạn, hung hăng.

Việc sử dụng sốc điện chữa trầm cảm được xem là biện pháp có vẻ hợp lý, bởi ECT từng là liệu pháp sốc điện điều trị trầm cảm xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1930 và đây có lẽ phương pháp nguy hiểm và tàn bạo nhất từng được biết đến.

Liệu pháp này đưa các xung điện vào não thông qua các điện cực gắn lên trán hoặc cấy trực tiếp trong não. Vấn đề là bệnh nhân không được tiến hành gây mê và dòng điện được sử dụng khá mạnh, gây ra nhiều đau đớn. Thậm chí ngày nay, ECT vẫn được thực hiện khi bệnh nhân được gây mê toàn thân với tần suất 3 lần/tuần trong 3-4 tuần. Nguyên nhân do biện pháp này cho hiệu quả tốt hơn so với nhiều loại thuốc trầm cảm khác. Nhưng nó cũng gây ra nhiều tác dụng phụ như mất trí nhớ, giảm trí nhớ ngắn hạn, đau đầu, buồn nôn và các vấn đề về tim.

Thái Yên / PL&XH

VietBao.vn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *